Đẩy mạnh áp dụng công nghệ cơ giới hóa vào khai thác than hầm lò được xem là giải pháp giúp TKV nâng cao sản lượng, tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân.

Sau hơn 3 tháng thi công lắp đặt, giữa tháng 8/2020, lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hạng nhẹ của Công ty Than Hạ Long - TKV đã hoàn thành và đưa vào vận hành chạy thử. Đây là một trong 10 công trình được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn gắn biển chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. Công trình có tổng mức đầu tư 106 tỷ đồng, quy mô gồm 80 bộ giàn chống tự hành, 1 máng cào, 1 máy khấu than, công suất thiết kế 300.000 tấn than/năm.

 

Trong 4 tháng cuối năm 2020, lò chợ này sẽ khai thác trên 120.000 tấn than, góp phần giúp Công ty đạt mục tiêu khai thác gần 2 triệu tấn than hầm lò trong năm nay. Hiện lò chợ được giao cho Phân xưởng Khai thác 7 quản lý, vận hành. Quá trình chạy thử, hiệu chỉnh, trung bình mỗi ngày lò chợ khai thác gần 1.000 tấn than.

 

Theo đánh giá của Công ty Than Hạ Long, lò chợ được thiết kế gọn nhẹ, linh hoạt, vì vậy quá trình vận chuyển lắp đặt nhanh, tốn ít nhân công, chi phí. Công nghệ lò chợ áp dụng trong điều kiện vỉa mỏng, phù hợp với điều kiện địa chất tại mỏ Công  ty Than Hạ Long. Dự kiến năm 2021, lò chợ sẽ đạt công suất khai thác 300.000 tấn than/năm (tăng 180.000 tấn than/năm so với lò chợ bình thường). Đặc biệt lò chợ sẽ tiết giảm được 30% nhân công, đảm bảo an toàn hơn trong quá trình khai thác.

 

Từ đầu năm đến nay, TKV đã đầu tư đưa 2 lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hạng nhẹ tại Công ty Than Hạ Long và Công ty CP Than Mông Dương vào hoạt động. Đến nay, TKV có 11 lò chợ áp dụng dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ trong khai thác than hầm lò. Trong đó, có 6 lò chợ cơ giới hóa đồng bộ, khấu lớp trụ, hạ trần thu hồi than nóc tại Công ty CP Than Hà Lầm (2 dây chuyền), Công ty CP Than Vàng Danh, Công ty Than Khe Chàm, Công ty CP Than Núi Béo, Công ty CP Than Mông Dương; 3 lò chợ cơ giới hóa đồng bộ khấu hết chiều dày vỉa tại Công ty Than Khe Chàm, Công ty Than Dương Huy, Công ty Than Quang Hanh; tổ hợp lò chợ cơ giới hóa đồng bộ tại Công ty Than Uông Bí.

 

Các lò chợ này dù hiện chưa đạt công suất thiết kế, nhưng sản lượng khai thác cao hơn các lò chợ bình thường. Cụ thể: Lò chợ cơ giới hóa đồng bộ 1,2 triệu tấn than/năm của Công ty CP Than Hà Lầm áp dụng trong điều kiện địa chất phức tạp, duy trì sản lượng ở mức từ 800.000 tấn - 1 triệu tấn than (bằng 68,5-84% công suất thiết kế, cao gấp 4-5 lần sản lượng than lò chợ giá xích); lò chợ cơ giới hóa đồng bộ áp dụng tại Công ty CP Than Vàng Danh, sản lượng bình quân đạt gần 390.000 tấn than (bằng 86,4% công suất thiết kế, cao gấp 2 lần so với lò chợ giá khung). Đặc biệt lò chợ cơ giới hóa đồng bộ của Công ty CP Than Hà Lầm luôn đạt và vượt từ 8-35% công suất thiết kế (từ khi đi vào hoạt động năm 2015 đến nay), sản lượng bình quân là 674.000 tấn than/năm, bằng 112,4% công suất thiết kế.

Việc nhân rộng áp dụng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ khai thác than hầm lò đã giúp TKV tăng sản lượng than khai thác: Năm 2015, sản lượng khai thác than bằng cơ giới hóa mới đạt hơn 720.000 tấn (chiếm 3,41% tổng sản lượng than hầm lò), đến năm 2019 là gần 2,8 triệu tấn (chiếm 11,6% tổng sản lượng than hầm lò); dự kiến năm 2020 khai thác hơn 3 triệu tấn (chiếm hơn 15% tổng sản lượng than hầm lò).

 

Hầu hết các lò chợ cơ giới hóa cắt giảm được 10-20% lao động trực tiếp so với lò chợ thủ công trong cùng điều kiện; các khâu chính trong quy trình công nghệ cơ giới hóa, như tách phá than, chống giữ, được thực hiện bằng thiết bị cơ giới hóa sẽ giảm được các công việc thủ công nặng nhọc, qua đó cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao mức độ an toàn trong sản xuất.

 

TKV phấn đấu đến năm 2025 sản lượng than khai thác bằng cơ giới hóa đạt 25% tổng sản lượng khai thác than hầm lò. Để hiện thực hóa mục tiêu này, TKV tiếp tục nhân rộng các lò chợ khai thác than bằng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ ra những khu vực có điều kiện phù hợp như: Mỏ Núi Béo, mỏ Khe Chàm II-IV. Với 2 lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hạng nhẹ đang áp dụng tại Công ty Than Hạ Long và Công ty Than Mông Dương, TKV sẽ theo dõi, đánh giá hiệu quả, làm cơ sở để mở rộng áp dụng ra các đơn vị có điều kiện phù hợp.